Phân tích bài thơ đất nước

Đất nước luôn là tiếng gọi linh thiêng muôn thuở, muôn nơi và của bao triệu trái tim con người. Đất nước đi vào đời chúng ta qua các lời ru ngọt ngào êm dịu, qua các làn điệu dân ca mượt mà và các vần thơ sâu lắng, tha thiết và rất đỗi kiêu hãnh của bao lớp thi nhân. Ta bắt gặp 1 hình tượng quốc gia đau thương nhưng vẫn ngời lên ý chí đấu tranh trong trang thơ Nguyễn Đình Thi đồng thời cũng rất dịu dàng ý tứ trong thơ Hoàng Cầm. Nhưng mang Nguyễn Khoa Điềm, ta bắt gặp một dòng nhìn vẹn toàn, tổng hợp từ nhiều bình diện khác nhau về một quốc gia của quần chúng. Tư tưởng đấy đã qui tụ mọi cách nhìn và cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm về đất nước. Ưng chuẩn những vần thơ phối hợp giữa cảm xúc và suy nghĩ, trữ tình và chính luận, nhà thơ muốn thức thức giấc tinh thần, ý thức dân tộc, tình cảm mang quần chúng, đất nước của thế hệ trẻ Việt Nam trong các năm chống Mĩ cứu nước.

Xem thêm: Phân tích đoạn thơ kiều ở lầu ngưng bích

Xem thêm: Phân tích giá trị nhân đạo của tác phẩm vợ chồng a phủ

Xem thêm: An toàn giao thông là hạnh phúc của mọi người

Mở đầu đoạn trích là giọng thơ nhẹ nhàng, rủ rỉ như những lời tâm can hài hòa với hình ảnh thơ bình dị gần gũi đưa ta trở về với cội nguồn đất nước:

Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi
Đất nước có trong những cái ngày xửa
Ngày xưa mẹ thường hay kể
Đất nước bắt đầu từ miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc

Đất nước, đầu tiên chẳng phải là một khái niệm trừu tượng mà là các gì rất gần gũi, thân thiết ở ngay trong cuộc sống bình dị của mỗi con người. Quốc gia hiện ảnh trong câu chuyện cổ tích ngày xửa ngày xưa mẹ kể, trong miếng trầu của bà, cây tre trước ngõ … gợi lên 1 quốc gia Việt Nam bao dung hiền hậu, thủy chung và sắt son tình nghĩa anh em, nhưng cũng khôn xiết quyết liệt lúc chống quân xâm lược. Mỗi quả cau, miếng trầu, cây tre đều gợi về một vẻ đẹp tinh thần quốc gia, đều thấm đẫm tình đầu lịch sử dân tộc.

Đất nước còn là hiện thân của các phong tục tập quán ngàn đời, minh chứng của 1 dân tộc giầu truyền thống văn hóa, giầu tình yêu thương gắn bó mang mái ấm gia đình. Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn. Gừng cố nhiên là cay, muối kèm theo là mặn. Ái tình bác mẹ mãi mãi mặn nồng như chính chân lí thiên nhiên kia. Hình ảnh thơ làm ta rưng rưng nhớ về 1 lời đề cập nhở khẩn thiết về nghĩa tình của một ai đấy hôm nào:

Tay bưng dĩa muối chén gừng,
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau.

Đất nước còn là thành quả của công cuộc cần lao vất vả để sinh tồn, để dựng xây nhà cửa:

Cái kèo cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Đất nước có từ ngày đó.

Ở đây đất nước không còn là 1 khái niệm trừu tượng nữa mà cụ thể, thân thuộc và giản gị biết bao. Việc tác nhái dùng những chất liệu dân gian để diễn tả suy tưởng của mình về đất nước sở hữu ý kiến “Đất nước của nhân dân”. Vẫn bằng lời chuyện trò tâm can với mỗi nhân vật hội thoại hình dong, Nguyễn Khoa Điềm đã diễn giải khái niệm quốc gia theo kiểu riêng của mình:

Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất Nước là nơi ta hò hẹn
Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm.

Đất nước không chỉ được cảm nhận bởi không gian địa lí bao la trong khoảng rừng tới bể mà còn được cảm nhận bởi không gian sinh hoạt thông thường của mỗi người, không gian của ái tình đôi lứa, không gian của nỗi thương nhớ. Ý niệm về đất nước được gợi ra từ việc chia tách 2 nhân tố hợp thành là đất và nước với các liên tưởng gợi ra trong khoảng đó. Sử dụng lỗi chiết tự mà vẫn không ngô nghê, mà vẫn thật duyên dáng và ý nhị, với thể gợi ra cho thấy một ý kiến sở hữu những đặc điểm riêng của dân tộc ta về khái niệm đất nước, mà tư duy thơ với thể tách ra, nhấn mạnh. Đất mở ra cho anh một chân trời tri thức, nước gột rửa tâm hồn em tinh khiết dịu hiền. Cùng với thời gian lớn lên đất nước trở nên nơi anh và em hò hẹn. Ngoài ra, đất nước còn người bạn san sẻ các tình cảm nhớ mong của những người đang yêu. Đất và nước tách rời lúc anh và em đang là 2 cá thể, còn hòa hợp lúc anh và em kết lại thành ta. Cái khăn – biểu trưng của nỗi nhớ thương – đã từng làm bao trái tim tuổi xanh bâng khuâng: “Khăn thương nhớ ai, Khăn rơi xuống đất …”, 1 lần nữa lại khiến lòng người xúc động, bổi hổi trước tình cảm chân tình của những tâm hồn yêu thương đắm đuối.

Đất nước còn là nơi trở về của các tâm hồn khẩn thiết với quê hương. Hình ảnh con chim phụng hoàng bay về hòn núi bạc, con cá ngư ông móng nước biển khơi mang phong cách dân ca miền Trung, thẫm đẫm lòng yêu quê hương cả tác giả. Quốc gia mình bình dị, thân thuộc nhưng thỉnh thoảng cũng to rộng, hoa lệ và kì vĩ vô cùng, nhất là đối có các người đi xa. Dù chim mê say trái chín ăn xa, thì cũng giật mình nhớ gốc cây đa lại về. Gia đình Việt Nam là như thế, khi nào cũng hướng về quê hương, hướng về duyên do. Quốc gia trường tồn trong không gian và thời gian: thời kì đằng đẵng, ko gian mông mênh để mãi mãi là nơi dân mình sum hiệp, là ko gian sinh tồn của cộng đồng Việt Nam qua bao thế hệ. Nguyễn Khoa Điềm gợi lại truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ, về truyền thuyết Hùng Vương và ngày giỗ tổ. Đề cập lại Lạc Long Quân và Âu Cơ, đề cập đến ngày giỗ tổ, Nguyễn Khoa Điềm muốn nói nhở mọi người nhớ về nguồn cội của dân tộc. Dù bôn ba chốn nào, người dân Việt Nam cũng đều hướng về đất tổ, nhớ đến chiếc giống Rồng Tiên của mình. Kể đến chuyện xưa ấy như để khẳng định, cũng là để đề cập nhở:

Những ai đã khuất
Những ai bây giờ
Yêu nhau và sinh con đẻ cái
Gánh vác phần người đi trước để lại
Dặn dò con cháu chuyện mai sau

Cảm hứng thơ của tác giả có vẻ phóng túng, tự do nhưng thật ra đây là 1 hệ thống lập luận hơi rõ mà chủ yếu là tác kém chất lượng biểu hiện quốc gia trong ba phương diện: trong chiều rộng của ko gian cương vực địa lí, trong chiều dài thăm thẳm của thời kì lịch sử, trong bề dày của văn hóa – phong tục, lối sống tâm hồn và tính bí quyết dân tộc. Ba phương diện đó được biểu đạt gắn bó hợp nhất và ở bất cứ bình diện nào thì tư tưởng đất nước của dân chúng vẫn là tư tưởng then chốt, nó như một hệ qui chiếu mọi xúc cảm và suy tưởng của nhà thơ. Và cụ thể hơn nữa, gần gũi hơn nữa, quốc gia ở ngay trong máu giết của mỗi chúng ta:

Trong anh và em hôm nay
Đều có một phần đất nước

Đất nước đã thấm vào máu làm thịt, đã hóa thành xương máu của mỗi con người, vì thế sự sống của mỗi tư nhân không hề là riêng của mỗi con người mà là của cả quốc gia. Mỗi con người đều được lợi ít rộng rãi di sản văn hóa vật chất và ý thức của đất nước, phải giữ gìn và bảo vệ để khiến cho nên đất nước muôn thuở. Từ những quan điểm tương tự về đất nước, phần sau của tác phẩm tác giả tập trung làm nổi bật tư tưởng: đất nước của dân chúng, chính nhân dân là người đã sáng tạo ra đất nước. Tư tưởng đó đã dẫn tới 1 chiếc nhìn mới mẻ, sở hữu chiều sâu về địa lí, về các danh lam thắng cảnh trên khắp mọi miền quốc gia. Các núi Vọng phu, hòn Trống mái, những núi Bút non Nghiên … không còn là các cảnh thú thiên nhiên nữa mà được cảm nhận duyệt các tình cảnh, căn số của quần chúng. Được nhìn nhận như là các đóng góp của dân chúng, sự hóa thân của các con người ko tên tuổi: “Những người vợ nhớ chồng còn góp cho đất nước những núi Vọng phu, Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái”, “Người học trò thắng cảnh”. Ở đây cảnh vật khi không qua cách thức nhìn của Nguyễn Khoa Điềm, hiện lên như 1 phần tâm hồn, máu giết thịt của nhân dân. Chính nhân dân đã kiến lập nên đất nước, đã đặt tên, đã ghi dấu vết thế cuộc mình lên mỗi ngọn núi, loại sông. Từ các hình ảnh, các cảnh vật, các hiện tượng cụ thể, thi sĩ quy nạp thành 1 nói chung sâu sắc:

Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi! Đất nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta.

Tư tưởng quốc gia của quần chúng. # Đã chi phối cách nhìn của nhà thơ khi nghĩ về lịch sử bốn ngàn năm của quốc gia. Nhà thơ ko ca ngợi những triều đại, không đề cập tới những anh hùng được sử sách lưu danh mà chỉ tụ hội kể đến những con người vô danh, thường ngày, bình dị. Đất nước trước nhất là của quần chúng, của những con người vô danh bình dị ấy.

Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra đất nước

Họ lao động và chống giặc ngoại xâm, họ đã giữ và truyền lại cho những thế hệ tương lai các trị giá văn hóa, văn minh, ý thức và vật chất của đất nước từ hạt lúa, ngọn lửa, ngôn ngữ, tên phường, tên làng đến các truyện thần thoại, câu tục ngữ, ca dao. Mạch xúc cảm lắng tụ lại để chung cuộc dẫn tới cao trào, làm cho vượt trội lên tư tưởn mấu chốt của cả bài thơ vừa bất thần, vừa giản dị và độc đáo:

Đất nước này là đất nước nhân dân
Đất nước của nhân dân, đất nước của ca dao thần thoại

Một định nghĩa giản dị, bất ngờ về đất nước. Đất nước của ca dao thần thoại nhưng vẫn diễn đạt các phương diện quan trọng nhất của truyền thống nhân dân, của dân tộc: Thật say đắm trong tình ái, biết quí trọng nghĩa tình và cũng thật quyết liệt trong tranh đấu chống giặc ngoại xâm. Các câu thơ khép lại tác phẩm ca tụng vẻ đẹp của cảnh sắc quê hương sở hữu 1 tâm hồn lạc quan phất phới.

Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm đã góp thêm thành công cho mảng thơ viết về đất nước. Từ những cảm nhận với tính thân thiện, quen thuộc, đất nước không còn xa lạ, trừu tượng mà trở thành thân thiết nhưng vẫn rất linh nghiệm. Đọc đất nước của Nguyễn Khoa Điềm ta ko chỉ sắm về xuất xứ dân tộc mà còn khơi dậy ý thức dân tộc trong mỗi con người Việt Nam trong mọi thời đại.

>>> Xem thêm:

Chia sẻ bài này

Những bài viết mới xem

Bình luận về bài viết


Bản quyền và phát triển bởi Helios Việt Nam.