Phân tích nhân vật người đàn bà trong Chiếc thuyền ngoài xa

Chiếc thuyền ngoài xa được viết vào năm 1983 – lúc hai miền đất nước đã hoàn toàn thống nhất, nhân dân tiếp tục cuộc sống độc lập. Nhiều vấn đề của đời sống văn hóa nhân sinh mà trước đây do tình cảnh chiến tranh chưa được chú ý, nay được đặt ra. Tác phẩm nằm trong xu hướng nghệ thuật chung của văn học công đoạn đổi mới: hướng nội, khai thác sâu sắc số mệnh tư nhân và thân phận con nhân gian thường. Đặc trưng là thân phận người đàn bà trong cuộc đời đầy sóng gió. Hình ảnh nhân vật người nữ giới cam chịu, nhẫn nhịn trong tác phẩm ko khỏi khiến ta bùi ngùi.

Xem thêm: Cảm nhận bài thơ đồng chí

Xem thêm: Phân tích truyện ngụ ngôn ếch ngồi đáy giếng

Xem thêm: Cảm nhận về bài thơ tây tiến

Trong truyện ngắn, tác giả chỉ gọi nhân vật này là “người đàn bà”, một bí quyết phiếm định. Tuy ko có tên cụ thể, một con người vô danh như biết bao người phụ nữ hải phận khác. Nhưng số mệnh con người ấy lại được tác giả tụ họp biểu thị, được người đọc để ý nhất trong truyện ngắn này. Nguyễn Minh Châu đã chú ý khắc họa đậm nết nhân vật người nữ giới khôn xiết trung thực. Nhà văn đã chẳng hề tô vẽ hay thổi phồng hóa nhân vật này. Trong xóm chài hẻo lánh, người phụ nữ trong khoảng từ hiện ra có với vẻ ngoài xấu xí, thô kệch bởi “vốn là đứa con gái xấu lại rỗ mặt sau một bận lên đậu mùa”. Đối với nữ giới thì ngoại hình là cái quý giá. Thế nhưng, người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn này đâu có được loại sắc đẹp “trời phú”. Chị ta xấu xí, khuôn mặt lỗ rỗ. Càng khó nhìn hơn khi chị ta bước sang chiếc tuổi trạc ngoài 40. Người đàn bà đấy gợi ấn tượng về một cuộc thế nhọc nhằn, lam lũ.

Đó là 1 người đàn bà cam chịu, nhẫn nhục. Dù người chồng tàn ác “trút cơn giận như lửa cháy bằng cách thức sử dụng dòng thắt lưng quật tới tấp vào lưng người phụ nữ. Lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két. Cứ mỗi nhát quất xuống lão lại chửi rủa bằng loại giọng rên rẩm, đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ”. Người nữ giới hàng chài đã không hề kêu một tiếng, ko chống trả cũng không tậu phương pháp chạy trốn. Lúc ban đầu chứng kiến những cảnh như thế, Phùng cực kỳ kinh ngạc. Phùng không hiểu vì sao người phụ nữ đấy không phải kháng cự hoặc là bỏ chạy. Mãi đến sau này, anh mới hiểu ra mọi điều. Người phụ nữ ko phải cam chịu 1 cách thức vô lí, chẳng hề nông nổi 1 bí quyết khờ khạo. Thực ra chị ta là người rất sâu sắc, thấu hiểu lẽ đời. Người phụ nữ này sở hữu 1 thế cục nhọc nhằn, lam lũ nhưng biết chắt chiu các hạnh phúc đời thường. Sống cam chịu và kín đáo, hiểu sâu sắc lẽ đời nhưng chị không để lộ điều đấy ra bên ngoài. Đây là người nữ giới sở hữu ngoài mặt xấu xí, thô kệch nhưng tâm hồn đẹp đẽ, thấp thoáng bóng vía của những người phụ nữ Việt Nam hiền lành, bao dung, giàu đức hi sinh và lòng vị tha.

Đó là 1 người phụ nữ giàu lòng tự tôn. Dù bị chống đánh đến vậy mà chị ko phải khóc. Và lúc biết Phác và người khách lạ trông thấy hành động vũ phu của chồng chị lại cảm thấy đớn đau. Vừa đớn đau, vừa khôn cùng hổ ngươi và điếm nhục. Lòng tự trọng của người phụ nữ, người vợ, người mẹ làm chị tủi nhục khôn xiết. Những giọt nước mắt đau đớn chứa chứa biết bao sự nhọc nhằn chỉ thực thụ rơi khi thấy đứa con yêu của mình chứng kiến cảnh tượng mình bị chồng đánh, chỉ thực sự rơi lúc có người khách lạ chứng kiến. Điều luôn dày vò người nữ giới khốn khổ. Đó không phải là những đau đớn do đòn roi của người chồng vũ cu li mà là sự nom nớp lo sợ con chiếc bị tổn thương. Nhưng rồi những đứa con vẫn biết sự thực làm bà “vừa đớn đau, vừa cực kỳ trinh nữ, nhục nhã”. Đứa con – cậu bé Phác vì yêu mẹ, thương mẹ mà thành căm ghét bố. Nó xông vào đánh bố để bảo vệ mẹ. Cuộc đời bất nhẫn đã khiến cho nó sống đầy căm hờn. Niềm tin trong trẻo trong tâm hồn nó đã bị nứt rạn. Đó chính là điều bà lo lắng nhưng vẫn không sao thoát khỏi được. Tuy nhiên, trong cảnh ngộ con đông, mà cuộc sống trên mặt nước đầy nhọc nhằn bất trắc, nỗi lo cơm áo không khi nào buông tha, liệu người nữ giới hàng chài với cách chọn lọc nào tốt hơn không? Đây là điều mà Phùng cũng như quan toà Đẩu ko bao giờ nghĩ đến. Dòng xuất xứ cho sự nhẫn nhục, cam chịu đấy sở hữu người đàn bà hàng chài chỉ đơn giản bởi trong cuộc sống mưu sinh đầy cam go, trên loại thuyền cái thuyền kiếm sống ngoài biển xa cần sở hữu 1 người đàn ông khỏe mạnh và biết nghề. Chỉ vì những đứa con của bà cần được sống và to lên: “Tình thương con cũng như nỗi đau, cũng như cái sự thâm trầm trong việc hiểu thấu những lẽ đời tuồng như mụ chẳng bao giờ để lộ rõ rệt ra bên ngoài”. Giả dụ nhìn trong khoảng giác độ ấy thì sự cam chịu, nhẫn nhục của người mẹ thật đáng để chia sẻ thông cảm. Ẩn giấu trong người nữ giới ấy là bóng vía của biết bao người phụ nữ Việt Nam – hiền từ, bao dong giàu lòng vị tha và đức hi sinh. Lúc được mời tới tào án để giải quyết việc gia đình chị rụt rè. Chị cố tậu một góc tường ở chốn công các con phố kia để ngồi. Đâu chỉ chị thấy khiếp sợ lúc đến 1 ko gian lạ mà còn vì thấy hổ ngươi, thấy ngượng nghịu lúc chuyện trong nhà giờ đem ra đến chốn đông người. Lòng tự tôn ko cho phép chị bạo dạn hơn được.

Dù bị bạo hành đến mức cùng kiệt, thế nhưng người đàn bà lại sống rất sâu sắc, thấu hiểu lẽ đời, hiểu chồng, thương con vô bến bờ, 1 người nữ giới vị tha giàu đức hy sinh. Tại phiên tòa, khác với vẻ sợ sệt lúc ban đầu, điệu bộ, ngôn ngữ và lời giải bày của người nữ giới đã khiến cho cả Đẩu và Phùng khôn xiết kinh ngạc. Người đàn bà hàng chài kia ko phải giản đơn như Đẩu và Phùng nghĩ. Trong khoảng đây, Phùng hiểu ra mọi lẽ. Hoá ra, cái nghề chài lưới trên một cái thuyền vó bè lênh đênh không thể thiếu bàn tay và sức lực của người đàn ông. Người chồng dường như quyết định sự sinh tồn của Anh chị em. Để duy trì sự còn đó cho cả gia đình thì họ phải hợp sức lại mà làm cho vần vật để nuôi 1 đàn con nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Hoàn cảnh của người phụ nữ hàng chài kia cũng như của bao gia đình hàng chài khác, trừ phi chị đề cập “giá tôi đẻ ít đi hoặc chúng tôi sắm được 1 loại thuyền rông hơn”. Hình như, mọi lỗi lầm tạo nên nghịch cảnh này người phụ nữ đều nhận về mình hết, coi nỗi khổ vận vào đời mình là lẽ đương nhiên. Nó giống như duyên trời đã định đoạt, không thể thoát khỏi. Chị bằng lòng thực tại phũ phàng như 1 quy luật. Bởi thế, chị chẳng hề oán trách, chẳng hề than khóc, chỉ 1 mình cam chịu, không muốn giải bày cùng người nào. Chị sống cho con chứ ko sống cho mình. Vì con mà ko quản cực nhọc, đớn đau. Vì con mà ko muốn cho chúng thấy mình bị bạo hành tàn bạo. Ấy là một phương pháp xử sự rất nhân văn. Chính điều đó đã đã khiến cho chánh án Đẩu và nghệ sĩ Phùng thức nhận được phổ quát điều. Thức nhận được, nỗi nhọc nhằn vất vả trong công việc làm cho ăn của cư dân lãnh hải. Thức nhận được cuộc sống cập kênh khiến họ phải bằng lòng không ít những nghịch cảnh, các ngang trái. Thức nhận được ở người phụ nữ ấy chứa cất chiếc tính sâu xa như một bản năng: “Ông trờisinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn do đó phải gánh lấy loại khổ”. Những lời lẽ đó của người nữ giới hàng chài được thốt lên từ 1 niềm tin đơn giản mà vững chắc vào chiếc thiên chức mà trời đã uỷ thác cho người phụ nữ. Thức nhận được rằng, người phụ nữ hàng chài kia rất biết sắm cho mình các niềm vui, hạnh phúc dẫu rất nhỏ nhoi trong cuộc sống đầy cạnh tranh. Ở chị bền vững 1 niềm tin, 1 ái tình và sự lạc quan vào cuộc sống. Hãy biết sống ngay khi cả cuộc thế không thể chịu được nữa. Nụ cười chợt ửng sáng lên trên khuôn mặt rỗ dằng dịt, chị mường tượng “trên thuyền cũng mang lúc vợ chồng con chiếc chúng tôi sống hòa thuận vui vẻ” và niềm vui “nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no”. Hạnh phúc có người đàn bà hàng chài kia thật giản dị mà ko kém phần sâu sắc. Thức nhận được nỗi đau, cũng như sự trầm lặng trong việc thấu hiểu các lẽ đời người đàn bà kia không bao giờ để lộ ra bên ngoài cả.

Thái độ cam chịu, nhẫn nhục của người phụ nữ gợi cho người đọc một nỗi xót xa thương cảm nhưng cũng ko khỏi băn khoăn suy nghĩ: ‘‘Phải chăng bà ta bị đòn rộng rãi nên tới mức quen rồi, ko còn biết đau nữa. Hay là bà ta ám muội dốt nát tới mức ko còn chút tinh thần về quyền sống của mình? Hoặc đấy là một sự tuyển lựa bất dĩ nhưng đã được lo liệu kĩ lưỡng, sáng suốt?” ko chỉ bị hành hạ về mặt thể xác mà người phụ nữ hàng chài ấy còn bị dày vò, đau đớn về ý thức. Sự cam chịu của người đàn bà đấy cũng chính là sự cam chịu của biết bao người phụ nữ Việt Nam trong cảnh đời khác nghiệt. Người nào cũng muốn với được hạnh phúc, được sống thỏa nguyện kiếp người. Nhưng thế cục chẳng phải khi nào cũng trơn, đôi khi bất trắc ập đến khiến cho ta bất ngờ đứng trong nghịch cảnh mà không hay. Sống vì con, hi sinh vì con là chọn lựa bản năng của người phụ nữ. Điều ấy cũng phản ánh sâu sắc các bất công trong phố hội. Trong khi người đàn ông sở hữu quá đa dạng quyền lực còn người đàn bà lúc nào cũng yếu đuối, ko được bảo kê, chở che. Ít ra là được xã hội thấu hiểu, đồng cảm và sẻ chia nỗi khổ đau mà họ bao ngày cam chịu. Phùng có nhân cách là một người nghệ sĩ đã chứng kiến trọn vẹn nghịch cảnh của người nữ giới hàng chài. Anh đi trong khoảng sự ngỡ ngàng này tới kinh ngạc khác trước việc mà Phùng chứng kiến. Anh cuồng nộ trước hành động vũ cu li, bất nhẫn của người chồng. Anh không khỏi sửng sốt trước thái độ nhẫn nhục, cam chịu của người vợ. Anh thấy boăn khoan trước những giận dữ trái chiều, khó hiểu của người đàn bà và cố đi tìm một câu trả lời. Thế rồi, Phùng đã từng bước nhận ra những gì mà người đàn bà phải đối mặt (thiên nhiên hung tợn đầy sự bất trắc, cuộc sống khó khăn mang cả đàn con hàng chục đứa…). Anh đã hiểu ra tại sao người nữ giới lại chọn phương pháp xử sự như vậy. Phùng đã thực hành một sự thức ngộ đầy ý nghĩa và cảm phục trước sự hi sinh lớn lao của người đàn bà (sống tất cả là vì con, cho con). Các phẩm chất rẻ đẹp của người nữ giới nghèo khổ mang thiết kế thô kệch được phát hiện một phương pháp phần lớn không hề bởi tâm hồn của người nghệ sĩ mà bởi tâm hồn của 1 người luôn khát vẳng tìm kiếm và suy tôn vẻ đẹp thực thụ ẩn giấu trong con người. Đôi khi vẻ đẹp ấy giấu mình quá kĩ, cần có các sự cố mới có thể phát hiện ra được.

Thái độ của Phùng đối sở hữu hoàn cảnh của người nữ giới cũng chính là thái độ, là mong muốn của biết bao người về một cuộc sống bình lặng, được sống đúng nghĩa, được yêu thương và được khẳng định mình. Kết thúc truyện ngắn, người đọc vẫn ko biết người phụ nữ hàng chài kia tên gì. Phải chăng là nhà văn đã sơ xuất? Ko phải, ấy chính là dụng tâm nghệ thuật của nhà văn. Người nghệ sĩ nhiếp ảnh đề cập rằng mỗi lúc nắm thật kĩ bức ảnh mà mình chụp anh lại thấy người nữ giới hàng chài đó bước ra từ bức ảnh “mụ bước các bước chậm rãi, bàn chân rậm trên mặt đất cứng cáp, hòa lẫn trong đám đông….”. Nghĩa là người phụ nữ đấy chỉ là 1 người trong đám đông của những con người lam lũ, nhọc nhằn, những con người lao khổ, đông đúc và vô danh. Qua nhân vật người phụ nữ hàng chài, Nguyễn Minh Châu cũng khẳng định: sự lam lũ, nặng nhọc, nhọc nhằn không khiến mất đi ở người nữ giới hải phận đề cập riêng, người đàn bà Việt Nam đại quát tấm lòng yêu thương, hiền hậu bao dung, vị tha. Và với người đàn bà, gia đình hạnh phúc là gia đình trọn vẹn các thành viên cho dù đây đó vẫn sở hữu các tính cách thức chưa hoàn thiện.

>>> Xem thêm:

Chia sẻ bài này

Những bài viết mới xem

Bình luận về bài viết


Bản quyền và phát triển bởi Helios Việt Nam.