Tiềm năng phát triển của nghề chăn nuôi gà tại Việt Nam hiện nay

Chăn nuôi gà đang là một trong những nghề sản xuất truyền thống lâu đời và mang lại hiệu quả thu nhập cao đối với người nông dân Việt Nam hiện nay. Hàng năm lượng gà thịt được cung cấp lên đến 450 nghìn tấn và khoảng 3,5 tỷ quả trứng, mặc dù tình trạng chăn nuôi gà trong nước còn đang ở mức nhỏ, phân tán và còn tương đối lạc hậu, năng xuất không cao. 

Tuy nhiên nhờ có sự đổi mới không ngừng của khoa học kỹ thuật trong chăn nuôi mà nghề chăn nuôi gà đang ngày càng phát triển, nhu cầu xã hội tăng cao, thị trường rộng lớn. Nghề chăn nuôi gà đang là những nghề mang lại nhiều tiềm năng phát triển và thu nhập cao cho người nông dân.

1.    Lịch sử phát triển chăn nuôi gà

Nghề chăn nuôi gà làm giàu là một ngành nghề truyền thống lâu đời từ xưa tới nay, mô hình chăn nuôi gà trước đây thường chỉ dừng lại ở quy mô hộ gia đình, chăn nuôi nhỏ lẻ và không đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng của thị trường.

Tuy nhiên từ những năm 1970 tới 1980, nhờ có chính phủ Cu-Ba viện trợ mà nước ta nhập được 3 giống gà thuần chủng là: bộ giống gà chuyên thịt TD8, Plymuoth Rock TD3, TD9), bộ giống gà kiêm dụng lông màu đỏ (Rosislan, trứng màu), bộ giống gà chuyên trứng (Bvy,Leghorn BVx, L).

Tiềm năng phát triển của nghề chăn nuôi gà tại Việt Nam hiện nay

Cũng trong khoảng thời gian này Hungari cũng có viện trợ cho Hà Nội cùng với Hải Phòng phát triển quy mô chăn nuôi gà công nghiệp, được nhà nước đầu tư xây dụng các trung tâm gà giống thuần chủng tại Ba Vì, Tam Đảo, Minh Tâm cùng với Hồng Sanh, từ đó các xí nghiệp chăn nuôi gà cùng với cung cấp gà giống dần dần hình thành và phát triển

Tới năm 1986 Cu Ba tiếp tục viện trợ cho Việt Nam giống gà chuyên thịt Hybro (gồm 4 dòng), năm 1989 tiếp tục nhập giống gà lông màu Moravia (trừng màu, thịt vàng) từ Hungari, năm 1999 nhập giống lông màu chuyên trứng Goldline 54 (3 dòng) từ Hà Lan. Từ năm 1993 đến nay nhập các giống cao sản chuyên thịt: ISA, AA, Ross 208 và 308… gà chuyên trứng: Hyline, ISA Brown… kiêm dụng JA57.

2.    Kỹ thuật chăn nuôi phát triển

Những giống gà công nghiệp nhập về có năng suất chăn nuôi cực cao, lượng thức ăn tiêu tốn lại thấp, nhưng thay vào đó là công nghệ chăn nuôi lại đòi hỏi cao, những điều này đang ngày càng được các trang trại cùng với hộ nông dân chăn nuôi áp dụng và cải thiện , khiến cho tình trạng chăn nuôi gia cầm tại Việt Nam không ngừng tăng cao

Tiềm năng phát triển của nghề chăn nuôi gà tại Việt Nam hiện nay

Giai đoạn từ năm 2001-2006 tăng trưởng bình quân giảm 0,41% về số lượng đầu con, trong đó giai đoạn trước cúm tăng 9,02% và giảm trong dịch cúm gia cầm 6,2%. Sản lượng gà tính theo đầu con đã tăng từ 158,03 triệu con năm 2001 và đạt cao nhất vào năm 2003 là 185,22 triệu con.

Tuy nhiên trong năm 2004 do dịch cúm gia cầm nên đàn gà giảm còn 159,23 triệu con, bằng 86,2% năm 2003, nhưng tới năm 2005 nhờ có kỹ thuật chăn nuôi phát triển, đàn đạt 159,35 triệu con, tăng 0,09% so với 2004. Chăn nuôi chiếm 72-73% trong tổng số đàn gia cầm hàng năm.

3.    Thị trường mở rộng

Thị trường chan nuoi ga và tiêu thụ gà thịt tại Việt Nam cũng không ngừng phát triển, lượng thịt gà hàng năm trong chăn nuôi chiếm khoảng 14- 15% trong tổng khối lượng thịt hơi các loại (thịt lợn chiếm 75-76%). Theo số liệu của Tổng Cục thống kê, năm 2003 sản lượng thịt, trứng gà đạt cao nhất; khối lượng thịt gà là 271,7 ngàn tấn số lượng trứng 3,5 tỷ quả.

Năm 2004, do dịch cúm xảy ra, ngành chăn nuôi bị thiệt hại lớn, sản lượng sản phẩm thịt, trứng đều giảm sút. Tính đến 1/8/2004 khối lượng thịt 231 ngàn tấn (bằng 84,89% của năm 2003), sản lượng trứng đạt 2,8 tỷ quả (bằng 81,27% của năm 2003).

Tiềm năng phát triển của nghề chăn nuôi gà tại Việt Nam hiện nay

Theo số liệu tính quay vòng, năm 2005 sản lượng thịt đạt 453,6 ngàn tấn, sản lượng trứng đạt 2,87 tỷ quả. Năm 2006, do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm sản lượng thịt, trứng giảm hơn năm 2005 (thịt đạt 538,9 ngàn tấn, trứng đạt 2,4 tỷ quả).

Chăn nuôi gà phát triển mạnh, nhất là vùng Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long Đông Bắc. Sản lượng đầu con của các vùng này năm 2003 tương ứng 50,13; 34,58 và 26,57 triệu con, chiếm 60% đàn gà của cả nước.

Các vùng phát triển tiếp theo Đông Nam Bộ Bắc Trung Bộ, chiếm 26%, các vùng sản lượng thấp nhất Tây Bắc Tây Nguyên, chỉ chiếm từ 4-5% về số lượng đầu con.

 

 

Chia sẻ bài này

Những bài viết mới xem

Bình luận về bài viết


Bản quyền và phát triển bởi Helios Việt Nam.